Bảo hiểm - Trụ cột chính đảm bảo an sinh xã hội

Ngày đăng: 09/11/2015 19:0:48

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang triển khai các loại hình bảo hiểm: bảo hiểm xã hội (BHXH); bảo hiểm y tế (BHYT); bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); bảo hiểm thương mại (BHTM) và bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Mặc dù các loại hình bảo hiểm này có đối tượng và đối tượng tham gia khác nhau; phạm vi bảo hiểm; số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm cũng khác nhau v.v..., song đứng trên góc độ xã hội chúng lại giống nhau khá nhiều về mục đích và đặc biệt là nguyên tắc hoạt động. Về nguyên tắc hoạt động, các loại hình bảo hiểm đều phải tuân thủ quy luật "số đông bù số ít" để dễ dàng "chia sẻ rủi ro" và "san sẻ tài chính" giữa những người tham gia bảo hiểm. Còn về mục đích, các loại hình bảo hiểm ra đời đều góp phần ổn định cuộc sống và sản xuất cho người tham gia, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức của khá nhiều người về vấn đề này vẫn chưa thống nhất, đặc biệt là loại hình BHTM. Chúng ta đều biết, BHTM là loại hình bảo hiểm kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận là chính. Song đứng trên góc độ xã hội, nó vẫn có tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn. Tính xã hội của BHTM thể hiện rõ nhất ở chỗ, mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội nếu có nhu cầu đều có quyền tham gia. Các doanh nghiệp BHTM luôn đa dạng hoá các sản phẩm của mình để đáp ứng mọi nhu cầu của người dân trong xã hội. Tính nhân đạo và nhân văn của BHTM thể hiện ở chỗ, BHTM luôn đứng cạnh mỗi người dân, mỗi tổ chức trong những lúc khó khăn khi gặp phải rủi ro. Thậm chí BHTM còn bồi thường nhân đạo trong nhiều trường hợp khi mà đối tượng bảo hiểm gặp phải rủi ro không thuộc phạm vi bảo hiểm. Tham gia BHTM còn là chỗ dựa tâm lý vững chắc cho các cá nhân và tổ chức trong cuộc sống, cũng như trong sản xuất kinh doanh, giúp họ mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, kể cả trong những trường hợp phải đi vay vốn v.v...

Có rất nhiều sản phẩm, nhiều nghiệp vụ BHTM do có tính  xã hội, tính công cộng cao, cho nên luật kinh doanh bảo hiểm của các nước, trong đó có Việt Nam đều quy định các cá nhân và tổ chức phải tham gia bắt buộc, như: bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm tai nạn hành khách v.v...

Trở lại với tiêu đề bài viết, chúng ta có thể khẳng định: bảo hiểm luôn là trụ cột chính đảm bảo ASXH!

                                                                                                                                                                                             

Thật vậy, trong hơn một thập kỷ vừa qua đã có nhiều nhà nghiên cứu và quản lý với nhiều bài viết và công trình khoa học đề cập đến vấn đề này. Phần lớn đều khẳng định, ASXH là một khái niệm rộng và mở. Nếu đứng trên góc độ lưới bảo vệ thì mô hình ASXH bao gồm 3 lưới: (i) Lưới thứ nhất bảo vệ cho người lao động và gia đình họ; (ii) Lưới thứ hai bảo vệ cho các đối tượng yếu thế trong xã hội, như người già cô đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi v.v...; (iii) Lưới thứ ba bảo vệ cho mọi người dân trong xã hội, n hất là khi người dân gặp phải thiên tai, địch hoạ v.v... Nếu đứng trên góc độ là trụ cột của an sinh, thì mô hình ASXH bao gồm 3 trụ cột: (i) thứ nhất là, thị trường lao động tích cực (bao gồm: đào tạo, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm, tín dụng sinh viên tự tạo việc làm v.v...); (ii) thứ hai là, BHXH; BHYT; BHTN; (iii) thứ ba là, bảo trợ xã hội, (như trợ giúp thường xuyên, trợ giúp đột xuất, cứu trợ xã hội...). Còn nếu đứng trên góc độ năng lực phòng ngừa rủi ro người ta xây dựng mô hình ASXH 3P (Prevention - Protection - Promotion); tức là: phòng ngừa - bảo vệ - thúc đẩy. Mô hìn này nhấn mạnh đến vai trò của ASXH nói chung, đến năng lực phòng ngừa rủi ro và tái tạo sinh kế thuận lợi hơn cho người dân trong xã hội v.v... Như vậy, dù quan niệm như thế nào đi chăng nữa, thì các loại bảo hiểm (BHXH, BHYT, BHTN, BHTM và BHTG) luôn được coi là một lưới hay một trụ cột hoặc một (P) trong mô hình ASXH. Trong số 3 mô hình trên, mô hình trụ cột ASXH được đề cập khá phổ biến và được nhiều nước áp dụng vì nó dễ hiểu và cụ thể. Vấn đề là ở chỗ, việc xác định trụ cột nào là chính lại chưa rõ, chưa đầy đủ và thiếu tính thống nhất. Đối với các nước kinh tế phát triển, vấn đề này họ ít quan tâm, song đối với các nước chậm phát triển và đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thì dây lại là vấn đề lớn và cần phải khẳng định, bởi lẽ nguồn lực tài chính của những nước này để đáp ứng nhu cầu ASXH luôn có hạn. Vì thế, xác định rõ trụ cột chính của ASXH sẽ giúp các nhà hoạch định các chính sách ASXH phù hợp, đúng lộ trình và bước đi; giúp cho các cấp chính quyền, các ngành và các cơ quan ASXH triển khai có hiệu quả từng loại chính sách; giúp các tổ chức và cá nhân thấy rõ vai trò, sự cần thiết và trách nhiệm của mình trong quá trình tham gia và thực hiện chính sách; giúp cho công tác phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chồng chéo, lãng phí và dàn trải v.v...

Sở dĩ bảo hiểm luôn được coi là trụ cột chính trong hệ thống các chính sách ASXH là vì:

+ Đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm rất rộng, rất đông đảo và luôn có xu hướng ngày càng gia tăng, nên các loại quỹ bảo hiểm được hình thành ngày càng lớn. Đây là điều kiện tiên quyết để chia sẻ và dàn mỏng hậu quả của rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm.

+ Với cơ chế hoạt động "có đóng, có hưởng", cho nên nếu các loại hình bảo hiểm phát triển sẽ góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Chẳng hạn, năm 2010 số thu BHYT cả nước chỉ là 23.305 tỷ đồng, đến năm 2014 đã lên tới 55.026 tỷ đồng. Thực trạng này đã làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước phải chi cho lĩnh vực y tế. Hoặc toàn bộ hệ thống các kho xăng dầu của Nhà nước buộc phải tham gia bảo hiểm cháy nổ, nếu một hay một số kho không may xảy ra hoả hoạn gây thiệt hại, nhà bảo hiểm sẽ bồi thường. Vì thế vốn của Nhà nước vẫn được bảo toàn nguyên vẹn v.v...

+ Các chính sách về bảo hiểm, nhất là BHXH, BHYT và BHTN có quan hệ chặt chẽ với các chính sách trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội trong hệ thống các chính sách ASXH quốc gia. Chúng hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quá trình thực hiện. Bởi vậy, khi các loại bảo hiểm này phát triển, số đối tượng tham gia và thụ hưởng được mở rộng sẽ làm giảm số đối tượng thụ hưởng các chính sách ASXH khác. Từ đó làm cho hệ thống ASXH bền vững hơn, ổn định hơn.

+ Các sản phẩm, các nghiệp vụ BHTM phong phú sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân, giúp người dân thực hành tiết kiệm tham gia các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phù hợp để chuẩn bị tài chính cho tương lai; để đảm bảo cuộc sống khi về già, giảm nhẹ gánh nặng phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội. Động thái này có ý nghĩa vô cùng to lớn, mang tính lâu dài, nhất là khi tốc độ già hoá dân số diễn ra nhanh chóng như hiện nay. Hoặc các cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm hoả hoạn không chỉ nhằm mục đích khắc phục hậu quả khi hoả hoạn xảy ra, mà còn được các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại tư vấn cho họ các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất. Từ đó góp phần đảm bảo an toàn xã hội và giảm thiểu rủi ro tổn thất v.v...

+ Các loại quỹ bảo hiểm được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và xu hướng chung là ngày càng gia tăng, Hơn nữa, với cơ chế hoạt động của bảo hiểm là phí thu trước; bồi thường, trợ cấp hoặc chi trả sau, nên mỗi loại quỹ trong mỗi loại hình bảo hiểm thường có một bộ phận nhàn rỗi. Phần quỹ nhàn rỗi sẽ được các tổ chức, các doanh nghiệp bảo hiểm đem đi đầu tư. Chính hoạt động đầu tư của các loại quỹ bảo hiểm sẽ góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho người lao động. Ở nước ta, mặc dù các loại hình bảo hiểm chưa thực sự phát triển, số đối tượng tham gia còn hạn chế, song chỉ tính riêng quỹ BHXH nhàn rỗi đem đi đầu tư tính đến hết năm 2014 đã gần 400.000 tỷ đồng. Hay số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại hoạt động ở nước ta năm 2014 đã lên đến hơn 60.000 tỷ đồng v.v...

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, không chỉ có BHXH, BHYT, BHTN, mà cả BHTM và BHTG đều góp phần đảm bảo ASXH quốc gia.

Trải qua 25 năm nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo nguồn nhân lực về bảo hiểm cho cả nước, Khoa Bảo hiểm, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được hơn 3.000 sinh viên chính quy, 162 Thạc sỹ và 8 Tiến sĩ thuộc hai chuyên ngành Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm thương mại tốt nghiệp ra trường. Phần lớn sinh viên và học viên sau khi tốt nghiệp đều làm đúng chuyên ngành đào tạo. Một số sinh viên sau khi tốt nghiệp hiện nay giữ những cương vị chủ chốt trong cơ quan BHXH các cấp và trong các doanh nghiệp BHTM. Khoa đã tham gia 3 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, chủ trì 01 đề tài NCKH trọng điểm cấp bộ và 03 đề tài cấp bộ, cấp tỉnh. Hệ thống giáo trình, bài giảng của Khoa ngày càng được hoàn thiện sau mỗi lần tái bản. Hiện nay, Khoa đang xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành An sinh xã hội vì các loại hình bảo hiểm đều gắn chặt với lĩnh vực này. Và đây cũng là chuyên ngành được tổ chức đào tạo lần đầu và duy nhất ở Việt Nam.

Nội dung bài viết này là vấn đề mà các nhà khoa học, các giáo viên của Khoa luôn trăn trở và thảo luận nhiều lần. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và trao đổi từ phía các nhà hoạch định chính sách về ASXH, các nhà nghiên cứu và quản lý.

NGƯT, PGS.TS Nguyễn Văn Định

Khoa Bảo hiểm